Từ hình tượng cây chuối (ba tiêu) trong thơ ca cổ điển Trung Hoa nghĩ về bài "Cây chuối" của Nguyễn Trãi

17/06/2013

Bài viết này không trực diện phân tích bài Cây chuối của Nguyễn Trãi, cũng không nhằm trao đổi chi tiết về những ý kiến còn rất khác nhau từ trước tới nay mà chủ yếu là cung cấp một số tư liệu tiêu biểu có liên quan trong thơ ca cổ điển Trung Hoa có thể dùng để tham khảo, đối chứng khi lý giải một vài vấn đề có tính chất then chốt của tác phẩm.

Từ hình tượng cây chuối (ba tiêu) trong thơ ca cổ điển Trung Hoa nghĩ về bài "Cây chuối" của Nguyễn Trãi

 

Nguyễn Khắc Phi

 

Bài viết này không trực diện phân tích bài Cây chuối của Nguyễn Trãi, cũng không nhằm trao đổi chi tiết về những ý kiến còn rất khác nhau từ trước tới nay mà chủ yếu là cung cấp một số tư liệu tiêu biểu có liên quan trong thơ ca cổ điển Trung Hoa có thể dùng để tham khảo, đối chứng khi lý giải một vài vấn đề có tính chất then chốt của tác phẩm.

Trong lịch sử thơ ca cổ điển Trung Hoa, cây chuối là hình tượng xuất hiện muộn hơn rất nhiều so với hình tượng các loài “hoa”, và “cây” khác như đào, mai, cúc, sen, tùng, trúc, phong, liễu... Điều đó có lý do: chuối là một đặc sản của phương Nam, cho đến nay, nó chỉ được trồng chủ yếu ở ba tỉnh cực nam của Trung Quốc là Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam, lác đác ở một vài vùng thuộc Hồ Nam, Phúc Kiến. Mà, cho đến thời Chiến Quốc, trong quan niệm của người Trung Nguyên, cả một vùng phía Nam sông Trường Giang rộng lớn vẫn bị coi là nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc đích thực. Chả phải chính thầy Mạnh Tử đã từng khinh bỉ coi người nước Sở là “dân man rợ ở phương Nam nói líu lo như khướu” (Nam man quých thiệt) đó ư? Cho nên, mãi tới thời Lục Triều (thế kỷ III-thế kỷ VI) hình tượng Cây chuối mới thi thoảng xuất hiện trong thơ văn, bắt đầu với thơ Dữu Tín. Thơ Dữu Tín thường bị xếp vào loại văn học Bắc Triều song thực ra ông là người phương Nam, từng làm quan dưới triều Lương Nguyên Đế thuộc Nam Triều, sau đi sứ mới lưu lại phía Bắc. Từ đời Đường, hình tượng Cây chuối ngày càng trở thành một đối tượng lĩnh hội thẩm mỹ đặc biệt, hình tượng cây chuối dần trở thành một ý tượng có tính chất biểu trưng, một mã văn hóa quan trọng trong đời sống tinh thần của người Trung Hoa. Các nhà thơ sinh trưởng ở phía bắc Trung Quốc, nơi không hề có chuối, vẫn viết về chuối, vẫn dùng hình tượng “ba tiêu dạ vũ” (tiếng mưa đêm trên tàu chuối) để nói lên nỗi buồn đêm thu, nỗi buồn xa xứ... Tiếng mưa rơi trên lá ngô đồng được bổ sung thêm tiếng mưa rơi trên tàu chuối, thế là hình tượng “ba tiêu” dần trở thành người bạn song hành với hình tượng “ngô đồng” trong nhiều tác phẩm. Từ thơ lan sang họa: “Ba tiêu”, chẳng hiểu vì sao, lại dần trở thành người bạn song hành với “Thái Hồ thạch” (đá vùng Thái Hồ tỉnh Giang Tô, dùng làm hòn non bộ rất đẹp). “Ba Tiêu-Thái Hồ thạch” là một môtíp hội họa phổ biến ở Trung Quốc thời trung đại.

Vì sao lại có hiện tượng có vẻ không bình thường như trên? Nhiều điều bây giờ ta thấy có vẻ không bình thường, xưa lại rất bình thường! Trong khuôn khổ có tính quy phạm, người phía bắc Trung Quốc xưa tả chuối cũng như Nguyễn Du tả “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” mặc dù ở Việt Nam không hề có cây phong. Dĩ nhiên, dù là quy phạm, đều có căn nguyên cụ thể của nó. Khác với Rimbaud, nhà thơ tượng trưng Pháp tuyên bố một cách vũ đoán: “Tôi bịa ra màu sắc những nguyên âm: A đen, E trắng, I đỏ, O xanh lam, U xanh lục”, Khổng Tử đã quan sát một cách kỹ càng tinh tế trước khi thốt ra một lời được coi là danh cú và sự vật được đề cập dần trở thành một hình ảnh tượng trưng truyền thống: “Tuế hàn nhiên hậu tri tùng bách chi hậu điêu” (Qua năm lạnh mới biết cây tùng cây bách là điêu tàn sau cùng”. Hình tượng cây chuối cũng vậy. Các nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc hầu hết là những ông quan của triều đình; lúc đương chức, số không ít là những vị quan thanh liêm, chính trực, đôi khi đã can đảm đứng lên phê phán triều chính, và mỗi lần “việt vị” như vậy họ lại bị biếm, thường là xuống phương Nam, nơi bấy giờ còn bị xem là xa xôi hẻo lánh, khí hậu viêm nhiệt. Lại nữa, tuy là một nước lớn, nhưng trong trường kỳ lịch sử, Trung Quốc cũng nhiều lần bị ngoại tộc xâm lấn, chiếm cả nửa giang sơn. Cứ mỗi lần như vậy, triều đình phong kiến Trung Quốc lại bỏ chạy về Giang Nam, coi sông Trường Giang là bức trường thành thiên nhiên bất khả xâm phạm, chẳng nghĩ gì đến việc khôi phục lãnh thổ đã mất. Triều đình “nam thiên”, kéo theo nhiều quan lại sĩ tử, trong đó có người ít nhiều còn ấp ủ tinh thần yêu nước thương nòi. Về Nam, những ông quan bị biếm trích ấy, những nhà trí thức có tinh thần dân tộc ấy đã phát hiện ra một loại cây đặc biệt mà Trung Nguyên tuyệt không hề có: Cây chuối (Tiêu hoặc Ba tiêu, chỉ loài chuối nói chung, xin đừng lẫn với Hương tiêu mới là Chuối tiêu). Và những đặc điểm của loại cây ấy dần bị họ khám phá, chiếm lĩnh, rồi qua bàn tay sáng tạo của các nhà thơ, đã hóa thành những hình tượng phong phú, đa dạng. Cây chuối nói chung cũng như từng bộ phận của nó dần được gán cho những phẩm chất có tính chất biểu trưng. Hình tượng cây chuối, lá chuối, nõn chuối... cũng như mọi ý tượng mang tính chất biểu trưng khác, qua thời gian, “được sử dụng đi sử dụng lại, như những quả cầu tuyết lăn tròn, càng lăn càng lớn, nội dung và hàm nghĩa không ngừng trở nên phong phú, một số phân hóa thành ý nghĩa mới, thậm chí nảy sinh cả những ý nghĩa trái ngược”[1].

Bộ phận được chú ý nhất là tàu chuối. Các nhà thơ đã quan sát kỹ từng bước quá trình phát triển của nó, từ khi còn là ruột nằm giữa thân cây (Tiêu tâm, Ba tiêu tâm, có khi được gọi là phương tâm, trung tâm), dẫu thân cây có bị chặt ngang ruột vẫn cứ trồi lên, dẫu thân cây có bị thiêu đốt, phần ruột vật tươi sống (hỏa thiêu ba tiêu bất tử tâm), cho đến khi lá khô héo vẫn bám chặt vào thân cây không chịu rơi xuống đất, cũng như cánh hoa cúc (cúc nụ nhỏ, thơm, phơi khô có thể dùng ướp trà, làm thuốc), dẫu héo tàn vẫn bám chặt đài hoa (cúc bất lạc hoa, tiêu bất lạc diệp).

Ruột chuối trung kiên có khi được miêu tả kết hợp với những tàu lá rập rờn trước gió phát ra những âm thanh, không phải buồn bã mà là tươi vui.

Lục vân dương song phiên

Thanh âm mãn quách vũ

Phong vũ tống thu hàn

Trung tâm bất ngôn khổ

(Ba Tiêu, Kiều Thực[2])

Tạm dịch:

Mây biếc rập rờn bên cửa sổ

Thanh âm trong trẻo ngập hiên nhà

Gió mưa đưa tới hơi thu lạnh

Xót tận đáy lòng chẳng thán ca

Lá khô héo còn bám chặt thân cây, lá xanh dù rách nát tơi tả, hẳn cũng chẳng chịu rơi để phải nhuốm bụi trần:

Kế vân thiển lộ nguyệt nha loan

Độc lập tây phong ý tự nhàn

Thư phá lục tiêu song phượng vĩ,

Bất tùy hồng diệp đáo nhân gian

(Đề ba tiêu mỹ nhân đồ, Dương Duy Chinh[3])

Tạm dịch:

Tóc mây lộ hé, mày cong nhạt

Đối mặt gió thu, ý vẫn nhàn

Chuối qúy mấy tàu xanh viết nát,

Chẳng theo lá thắm xuống trần gian

(Đề bức họa người đẹp (viết lên) tàu chuối)

Rõ ràng dáng nét kiêu sa, tự tín của “mỹ nhân” đã được tính chất cao ngạo, quật cường của những tàu phượng vĩ - một loài chuối qúy và cao lớn, tôn lên gấp bội.

Trong thơ cổ Trung Quốc, những bài thơ viết về chuối có tình điệu khỏe khoắn như trên không phải là nhiều. Chuối, một loài cây “bén hơi xuân”, tươi tốt vào hè, lại thường được miêu tả lúc vào thu. Mùa thu, thường kèm theo mưa gió, nhất là về đêm, đôi khi được dùng làm bối cảnh để làm nổi bật tính cách quật cường của chuối như trong hai bài thơ vừa dẫn song phần lớn là để làm cho không khí do âm thanh đặc biệt của chuối - cũng gần giống như của ngô đồng - trong gió mưa càng thêm xao xuyến, não nề. Trong hội họa cũng vậy: “Vũ đả ba tiêu” và “Ngô đồng thu vũ” là hai đề tài phổ biến thường thể hiện cùng một chủ đề trong Trung Quốc họa. Không phải ngẫu nhiên mà hình tượng “Ba tiêu dạ vũ” xuất hiện nhiều trong thơ, từ Nam Tống, thời kỳ mà nhà thơ yêu nước vĩ đại Lục Du (1125-1210) đã gọi là thời buổi “đầu hàng vô cùng đau xót”, bao nhà thơ buộc phải rời quê hương bị ngoại tộc chiếm đóng, sống lênh đênh trôi dạt ở miền Nam.

Dưới đây chỉ xin tuyển dịch hai bài từ tiêu biểu. Bài Ba tiêu viết theo điệu “Thái tang tử thêm chữ” của nữ sĩ Lý Thanh Chiếu (1084-1151):

Song tiền chủng đắc ba tiêu thụ

Âm mãn trung đình

Âm mãn trung đình

Diệp diệp tâm tâm

Thư quyển hữu dư tình

Thượng tâm chẩm thượng tam canh vũ

Điểm trích thê thanh

Điểm trích thê thanh

(dị bản: Điểm trích lâm lâm)

Sầu tổn Bắc nhân

(dị bản: Sầu tổn ly nhân)

Bất quán khởi lai thinh.

Tạm dịch:

Trước song trồng được vài cây chuối

Bóng phủ đầy sân

Bóng phủ đầy sân

Lá lá buồng tim

Cuốn mở chứa chan tình

Đêm khuya trên gối rầu lòng khách

Tí tách mưa rơi

Tí tách mưa rơi

Người Bắc bồi hồi

Nghe lạ, nhổm dậy ngồi.

Đoạn sau có thể dịch (theo dị bản):

Đêm khuya trên gối rầu lòng khách

Giọt giọt dầm dề

Giọt giọt dầm dề

Não người xa quê

Chưa quen, ngồi dậy nghe.

Bài Ngồi buồn thư trai, theo điệu “Điểm giáng thần” của Cát Thắng Trọng (1072-1144):

Thu vãn hàn trai

Lệ sàng hương duyện hoành khinh vũ

Nhàn sầu kỉ hứa

Mộng trục ba tiêu vũ

Vân ngoại ai hồng

Tự thế u nhân ngữ

Quy bất khứ

Loạn sơn vô số

Tà nhật hoang thành cổ

Tạm dịch:

Cuối thu phòng lạnh

Giường lê hương khói cuộn chơi vơi

Sầu vương bao nả

Mộng nương tàu chuối điểm mưa rơi

Ngoài mây chiếc nhạn

Đau xót nói hộ người

Về chẳng được

Núi rối bời bời

Chiều tà thành vắng trống trêu khơi.

Ở bài sau, tác giả đã kết hợp khá thành công hình tượng thị giác và hình tượng thính giác, trong đó hình tượng “ba tiêu vũ” chiếm một vị trí khá nổi bật. Ngay giữa ban ngày, tiếng mưa rơi lộp độp trên tàu chuối vẫn đặc biệt gợi cảm, nhất là với kẻ xa quê.

Chúng ta có thể chỉ ra không chỉ hàng chục mà hàng trăm bài thơ, bài từ của Trung Quốc miêu tả tiếng mưa rơi trên tàu chuối mà bài Dạ vũ (mưa đêm) của Bạch Cư Dị thường được coi là bài thơ mở đầu:

Cách song tri dạ vũ

Ba tiêu tiên hữu thanh

(Cách song biết mưa đêm (vì nhờ) chuối phát ra tiếng trước)

Một hình tượng nữa có tần số xuất hiện tương đương với “ba tiêu dạ vũ” là các “phong thư”, “bức thư”... bằng nõn chuối, lá chuối. Cơ sở đầu tiên của loại hình tượng ny là truyền thống tập viết chữ “thảo” trên tàu chuối (Tiêu thư) mà nhà sư Hoài Tố (725-785) đời Đường là người mở đầu. Theo Thanh dị lục thì Hoài Tố do “nhà nghèo, không có giấy viết bèn trồng hơn vạn gốc chuối để lấy lá thay giấy”. Nhiều ý kiến khác lại cho rằng Hoài Tố làm như vậy chỉ là biểu thị tính chất thanh cao, không hùa theo thói tục mà thôi. Ý kiến sau hợp lý hơn vì đã nghèo không có giấy viết thì làm sao lại trồng được hơn vạn gốc chuối? Hoài Tố cùng với Trương Húc (người Tô Châu, Giang Tô) được xem là hai nhà thư pháp vào loại nổi tiếng nhất đời Đường. Quanh nhà Hoài Tố đầy chuối nên nhà ông ở được người đời gọi là “Lục thiên am” (Am trời xanh); cả hai ông đều thường vung bút viết sau lúc say, riêng Trương Húc lại còn hò hét đã rồi mới viết, nên người đời có câu: “điên Trương cuồng Tố”. Không lạ gì sự tích Hoài Tố đã để lại một dấu ấn khá đậm nét trong đời sống văn hóa tinh thần đối với hậu thế. Cơ sở thứ hai là hình dáng đặc thù của nõn chuối: thanh tao khêu gợi, đầy nữ tính, song chủ yếu là giống như một cuốn sách, một phong thư (ngày xưa).

Dưới đây xin dẫn ba bài thơ và bài từ tiêu biểu.

Bài Ba tiêu theo điệu “Bồ tát man” của Trương Tư[4]:

Phong lưu bất khả hoa vi chủ

Đa tình quản định phong hòa vũ

Tiêu sái lục y trường

Mãn thân vô hạn lương

Tự sách đề thi cú

Mạc bằng tiểu lan can

Minh nguyệ sinh dạ hàn

Tạm dịch:

Phong lưu chẳng lấy hoa làm chủ

Đa tình giữ được mưa cùng gió

Áo biếc dài thanh tao

Toàn thân mát mẻ sao

Tờ hoa nơi cuốn mở

Như vội đề thơ đó!

Xin chớ dựa lan can

Trăng sáng lạnh đêm tàn.

Chúng ta cần hiểu chữ “phong lưu”, “mưa gió” theo cả nghĩa ẩn dụ. Hai câu “Văn tiên thư quyển xứ / Tự sách đề thi cú” được xem là “danh cú”. Nhiều nhà thơ chỉ tả lá chuối hoặc nõn chuối còn phong kín. Cái duyên của hai câu thơ là ở chỗ “nửa kín nửa hở” rất “nữ tính” mà cũng rất “đa tình” của tàu lá chuối vừa hé mở.

Một bài thơ nhan đề cũng là Ba tiêu của Trịnh Khắc Nhu[5] (1693-1765) ở đời Thanh:

Ba tiêu diệp diệp vị đa tình

Nhất diệp tài thư, nhất diệp sinh

Tự thị tương tư trừu bất tận

Khước giao phong vũ oán thu thanh

Tạm dịch:

Chuối tơ mỗi lá một đa tình

Một nõn bung xòe, một nhú sinh

Tự gỡ tương tư còn chửa dứt

Lại thêm mưa gió tiếng buồn tênh!

Về mặt khắc họa hình tượng Ba tiêu, đây là một trong những bài thơ thành công nhất.

Bài thơ gần gũi nhất với bài Cây chuối của Nguyễn Trãi là bài Vị triển ba tiêu của nhà thơ Tiền Hử, cháu bốn đời của nhà thơ nổi tiếng Tiền Khởi đời Đường. PTS. Nguyễn Thị Bích Hải đã giới thiệu bài thơ này trong tạp chí Văn học và trong cuốn 108 bài thơ tình Trung Hoa (Nxb. Thuận Hóa, 1996, tr. 183-184):

Lãnh chúc vô yên lục lạp can

Phương tâm do quyển khiếp xuân hàn

Nhất giam thư trát tàng hà sự

Hội bị đông phong ám sách khan

(Đuốc lạnh khói không, ngọn nến xanh

Lòng thơm còn cuốn, sợ xuân hàn

Phong thư ẩn dấu điều chi ấy.

Lén mở ra xem, ngọn gió lành).

Bài dịch trên của chị Bích Hải có chỗ tốt song có chỗ chưa thật đạt: dung chữ “hàn” ép ở câu 2, đảo chủ ngữ không cần thiết ở câu 4 và nhất là đông phong (gió xuân) không nên dịch là “gió lành” vì mùa nào cũng có gió lành cả. “Gió xuân đây là một ẩn dụ thể hiện dương tính, không thể thay bằng chữ nào khác.

Chúng tôi mượn phép dịch lại như sau:

Đuốc lạnh, nến xanh, tanh lặng khói

Nõn thơm sợ rét cuốn như lèn

Phong thư còn giấu điều chi đó?

Hẳn gió xuân về lén xé xem!

Qua một số ví dụ trên, ta thấy quả nội dung, hàm nghĩa của hình tượng Ba tiêu trong thơ ca cổ điển Trung Hoa thật phong phú. Chúng tôi chưa có điều kiện để tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống hình tượng Ba tiêu trong thơ ca cổ điển Việt Nam, song qua một số bài thơ của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, trong bộ phận “Hoa mộc môn” của một số tác giả, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, kể cả thơ của Hồ Chí Minh, ta thấy sự xuất hiện hình tượng Ba tiêu (hoặc Cây chuối) không phải là ít.

Sau khi dịch và giới thiệu bài thơ của Tiền Hử nói trên, chị Bích Hà đặt ra câu hỏi có ý nghĩa song không trả lời: sự giống nhau giữa bài Cây chuối của Nguyễn Trãi và Vị triển ba tiêu của Tiền Hử là ngẫu nhiên hay là kết quả của một quá trình tiếp xúc? Theo tôi, muốn trả lời được câu hỏi này, cần phải đặt vấn đề trên một phạm vi bao quát hơn. Nếu so sánh hình tượng “hoa” và “cây” trong thơ ca cổ điển Việt Nam và Trung Quốc ta thấy có mấy tình huống sau:

- Có những hình tượng rõ ràng là “ngoại nhập” như hình tượng “cây phong” đã trình bày ở trên.

- Có những cây như tùng, cúc, trúc, mai ở Việt Nam cũng có, song một số đặc tính được gán cho chúng mà cha ông ta đã tiếp nhận vốn xuất phát từ quan niệm của người Trung Quốc xưa.

Hai loại trên là có tính quy phạm và ước lệ cao nhất.

- Có những quan niệm về cây, hoa hoàn toàn giống nhau song không thể nói là kết quả của quá trình tiếp xúc. Chúng ta có thể thấy ngay điều đó nếu so sánh câu ca dao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” với câu văn xuôi sau đây của Chu Đôn Di đời Tống trong bài Ái liên thuyết (nói về việc yêu hoa sen): Dư độc ái liên chi xuất ư nê nhi bất nhiễm (ta chỉ yêu hoa sen mọc ở trong bùn mà không vấy bùn).

- Trường hợp Cây chuối, theo ý kiến riêng tôi là tương đối phức tạp. Không ai trong chúng ta, dẫu là đã tinh thông mấy về văn học cổ điển Trung Quốc, dám bảo là đọc văn học cổ điển Trung Hoa nhiều hơn các cụ ngày xưa. Tôi tin chắc rằng những bài thơ về Ba tiêu dẫn trên, các nhà thơ lớn của Việt Nam xưa đã từng đọc và thưởng thức. Mặt khác, quả thật hình tượng Cây chuối trong văn học cổ Việt Nam tuy không phải là cá biệt song xuất hiện ít hơn rất nhiều so với tùng, cúc, trúc, mai. Hơn nữa, nếu đối với những nhà thơ Trung Quốc xưa do nhiều nguyên nhân phải về sống ở miền Nam, chuối là “của lạ” thì với người Việt Nam xưa và nay, chuối lại là một trong những loại cây quen thuộc gần gũi nhất.

Ở Trung Quốc, Ba tiêu là hình tượng rõ ràng có tính chất tượng trưng và những bài thơ viết về nó thường mang nặng tính chất quy phạm. Trong các toàn tập, tuyển tập phân loại thơ ca cổ điển Trung Quốc, bao giờ nó cũng được xếp thành một mục riêng (Ba tiêu loại) và chỉ đứng sau một số ít loài “hoa” và “cây” khác như tùng, cúc, trúc, mai, phong, liễu[6].

Ở Việt Nam, khi viết về chuối, các nhà thơ xưa căn cứ vào sự cảm thụ trước cuộc sống hiện thực là chính song những bài thơ hay về Ba tiêu mang nặng tính quy phạm Trung Quốc chắc hẳn cũng đã ít nhiều có tác dụng gợi ý. Bởi vậy, theo tôi, không nên ghép chuối vào loại tùng, cúc, trúc, mai, song cũng không nên tuyệt đối xem nó là “loại cây mang tính chất dân dã” (Văn học 10, tập I, Ban khoa học xã hội, Nxb. Giáo dục, 1995) như các loại trong câu “Ao cạn vớt bèo cấy muống” của Nguyễn Bỉnh Khiêm được.

Ít nhất, việc biết các bài thơ viết về Ba tiêu của Trung Quốc cũng cho ta thấy không nên đưa ra những nhận định kiểu như sau:

- “Một người đại nho như Nguyễn Trãi khi nào lại ví mình như cây chuối. Các cụ chỉ có thể ví mình như cây tùng, cây bách, cây trúc mà thôi. Cây chuối lả lướt nõn nà, yếu đuối làm sao mà thay mặt các cụ được?” (Minh Hùng, Giáo dục và thời đại số 22 (162) ra ngày 16/3/1999.

Có lẽ không cần nhắc tới hình ảnh chuối khỏe khoắn, kiên cường trong những bài thơ đã dẫn, chỉ xin đọc lại mấy câu thơ cũng viết về chuối trong Hồng Đức quốc âm thi tập của chúng ta:

Dọc giơ gươm đẩu kinh cường khấu

Lá cuốn cờ xuân tượng thái bình

Đành hay giống cổ phù nước

Con cháu đời đời dõi đĩnh sinh.

thế là “chuối” cũng có phẩm chất “đống lương” của “tùng bách” đấy chứ?

- “Không có một công thức, một ước lệ “tư tưởng” nào trong hình tượng tàu lá chuối-phong thư” (Thơ nôm Đường luật, Nxb. Giáo dục, 1997, tr. 378),v.v...

Việc biết các bài thơ về Ba tiêu của Trung Quốc cũng cung cấp cho ta thêm căn cứ để có thể nói như nhà thơ Xuân Diệu: “Cây chuối là một bài thơ tình”. Tác giả cuốn Thơ nôm Đường luật, ngay dưới luận điểm chưa thật ổn đáng nói ở trên, đã hạ một nhận xét tinh tế: “Liên tưởng đọt chuối non với phong thư thì chỉ cần có tài năng, nhưng liên tưởng với bức tình thư thì phải cỡ một thiên tài”. Tôi muốn nói rõ hơn: rất nhiều nhà thơ Trung Quốc đã so sánh đọt chuối với phong thư rồi, hơn thế những đọt chuối ấy đều đa tình, song gắn hẳn chữ tình thư, dùng tình làm định nghĩa cho thư thì quả là độc sáng của Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi còn có những chỗ độc sáng khác. Đọc rất nhiều bài về chuối của Trung Quốc, tôi mới chỉ gặp một bài tả hoa chuối:

Cốt tướng lung linh thấu bát song

Hoa đầu đảo tháp tử hà hương

Nhiễu thân vô số thanh la phiến,

Phong bất lai thời dã tự lương

Vịnh Ba tiêu, Phạm Thành Đại, nhà thơ đời Tống

Tạm dịch:

Cốt cách lung linh xuyên kẽ lá,

Chúc đầu sen tím ngạt ngào hương

Quanh mình quạt lụa xanh nhiều quá

Mát rượi toàn thân dẫu gió ngừng

Tôi chưa đọc bài nào nói đến “buồng” như Nguyễn Trãi. Chúng ta đã có căn cứ để chứng minh “buồng” ở đây (có bộ thảo đầu) không thể là “phòng” như một số người quan niệm. Còn “mầu” có phải là “mùi” không thì có lẽ cần bàn thêm. Tôi cố tình dẫn thêm bài thơ của Phạm Thành Đại chỉ vì câu thơ thứ hai: tả hoa chuối cực hay, vừa có hình, vừa có màu, vừa có vị thế đặc biệt và nhất là có mùi thơm. Ta cứ bàn mãi chuối xanh hay chuối chín mà sao không đặt một giả thiết khác: đây không phải là một buồng chuối chín mà là một buồng hoa chuối (một buồng chuối có nhiều nải, trong khi có nải đã hình thành thì ở phần dưới hoa vẫn tiếp tục nở). Cho dù là buồng chuối xanh đi, nhà thơ với cảm quan tinh nhạy trước hương vị của cuộc đời, từng biết mùi thơm lừng của chuối chín ở những lúc khác, nơi khác, tại sao lại không thể tưởng tượng được buồng chuối xanh nõn nà, xanh bóng kia đang tỏa mùi thơm? Không nên đối chiếu một cách cứng nhắc sự thực trong cuộc sống và cái chân thực mà văn học nhằm đạt tới. Dữu Tín, nhà thơ đầu tiên viết về chuối ở Trung Quốc, đã viết hai câu thơ nổi tiếng:

San hàm ba tiêu khí

Phiến động trúc hoa lương

(Áo ngậm mùi vị của chuối / quạt lay hơi mát của hoa trúc)

Ngót một nghìn năm sau, chả lẽ Nguyễn Trãi không có được một cảm nhận tương tự như Dữu Tín?

Dẫu sao, việc cùng tồn tại của “buồng” và “bức tình thư phong còn kín” cũng cho ta thấy Nguyễn Trãi không chỉ tả một cây chuối mà tả cả một bụi chuối. Theo tôi, đó cũng là điều độc sáng nữa của Nguyễn Trãi. Một cây chuối trơ trọi làm sao đẹp bằng một bụi? Và ở Việt Nam, không nói vào xuân, mà ngay cả ở những ngày đông giá lạnh, không khó tìm những bụi chuối, ở đó có cây đã có buồng, cây khác còn non tơ. Chính điều đó nói lên sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp hiện thực và bút pháp tượng trưng mà ta cũng đã từng thấy trong nhiều bài thơ khác của Nguyễn Trãi.

Qua hình tượng phong thư, Nguyễn Trãi còn muốn bộc lộ một tâm sự kín đáo nào nữa không?

Theo tôi, một bài thơ có thể có nhiều tầng lớp nghĩa. Nghĩa đầu tiên mà ai cũng dễ cảm nhận là tình yêu nam nữ. Không phải vì thế mà làm cho Nguyễn Trãi kém phần vĩ đại. Tôi tán thành nhận định thấu tình đạt lý của anh Đặng Thiêm: “Một Nguyễn Trãi đa tình không hề làm giảm hay giảm đẹp cái phần hùng, phần bi trong hồn thơ Người, ngược lại, càng tôn cao một tâm hồn thơ rất vĩ đại mà cũng rất đời thường, đời thơ” (Giáo dục và thời đại, số 20, ngày 9/3/1999).

Rộng hơn tí nữa, ta có thể nói đến sức sống của tuổi trẻ, của mùa xuân, khát khao dâng hiến.

Nguyễn Trãi có muốn nhắn nhủ, trần tình điều gì với nhà vua? Tôi cho rằng, nếu có, nó phải là lớp nghĩa cuối cùng, với điều kiện là xác định được chắc chắn thời điểm sáng tác của bài thơ là vào thời kỳ Nguyễn Trãi về Côn Sơn.

Tôi không bác bỏ hay công nhận giả thiết này mà chỉ xin bổ sung thêm hai cơ sở cho giả thiết:

- Trong văn học thế giới cũng như trong văn học Trung Quốc, không thiếu gì hiện tượng dùng tình yêu để thể hiện những quan điểm chính trị. Nhà thơ Khuất Nguyên, nhà thơ Quách Mạt Nhược đều làm như thế.

Hoa tươi còn chửa lìa cành

Xem ai là gái hữu tình ta đưa

(Ly tao, Khuất Nguyên)

Quách Mạt Nhược thì tha thiết gọi Tổ quốc là “tình nhân trẻ tuổi của tôi”.

- “Gió” trong Cây chuối hẳn là gió xuân. Trong văn học cổ, gió xuân thể hiện dương tính, đem lại sự ấm áp của mùa xuân, tượng trưng cho người con trai, đôi lúc tượng trưng cho cả vua.

Một tác phẩm văn học lớn, dù có khuôn khổ rất nhỏ, là một tác phẩm trong khi đưa tới cho độc giả hậu thế những cảm thụ cơ bản ổn định, vẫn có thể đặt ra những vấn đề mới. Cây chuối của Nguyễn Trãi là một tác phẩm như vậy. Chúng ta không ngạc nhiên trước những giả thiết mới về nó, tất cả vấn đề là ở chỗ những giả thiết ấy phải được chứng minh một cách thuyết phục.

 

 


[1] Ngô Chiến Lũy, Trung Quốc thi học, Đông Phương xuất bản xã, Bắc Kinh, 1917, tr..28.

[2] Kiều Thực, nhà thơ đời Thanh, tự Mục Châu, người tỉnh Giang Tô. Chữ “thanh” ở câu thứ hai nghĩa là trong trẻo, chứ không phải nghĩa là “tiếng”.

[3] Dương Duy Chinh (1296-1370), nhà thơ, nhà thư pháp đời Nguyên.

[4] Xin xem Toàn Tống từ tinh hoa phân loại giám thưởng từ điển, Phan Bách Tề chủ biên, Hà Hải đại học xuất bản xã, Nam Kinh, 1975, tr. 460.

[5] Trịnh Khắc Nhu, hiệu Bản Kiều, người Giang Tô, đậu tiến sĩ, lúc nhỏ nhà nghèo làm nghề bán tranh để sinh sống. Ông cũng là một danh họa của Trung Quốc, chuyên vẽ trúc và lan.

[6] Xin xem 1. Trung Quốc lịch đại danh thi phân loại từ điển, Hồ Quang Chu, Chu Mãn Giang chủ biên, Quảng Tây nhân dân xuất bản xã, 1984, tập I, 2. Toàn Đường thi tinh hoa phân loại giám thưởng tập thành, Phan Bách Tề... Hà Hải đại học xuất bản xã, Nam Kinh, 1995. 3. Toàn Tống từ tinh hoa phân loại giám thưởng, Sđd.

 

Search by Date: