Ảnh hưởng - Đối thoại - Tiếp nhận

13/05/2013

Trong lịch sử văn học so sánh, từ lâu đã có không ít người đặt lên hàng đầu các nghiên cứu về ảnh hưởng, mà trọng tâm là tác giả - tác giả...

 Ảnh hưởng - đối thoại - tiếp nhận

Lưu Văn Bổng

Nền văn học này ảnh hưởng đến nền văn học khác là chuyện bình thường trong lịch sử văn học thế giới, nếu không muốn nói là quy luật. Trong một nền văn học, tác gia này ảnh hưởng đến tác gia khác cũng là chuyện không có gì lạ. Thậm chí trong đời thường, người này chịu ảnh hưởng của người kia, mặt này hay mặt khác, cũng là chuyện luôn xảy ra. Trong lịch sử văn học so sánh, từ lâu đã có không ít người đặt lên hàng đầu các nghiên cứu về ảnh hưởng, mà trọng tâm là tác giả - tác giả. Văn học so sánh nghiên cứu các lần lột xác, các điểm nhìn trong quá trình sáng tạo của nhà văn, nghiên cứu những gì người ta nói về nhà văn ấy ở các chương trên, được văn học so sánh Pháp chọn theo sớm nhất, và đã có nhiều thành tựu nhất.

Trong vòng gần nửa thế kỷ nay, hướng đi này đã bị phê phán mạnh. Thậm chí, có lúc có nơi, còn bị lên án quyết liệt, do có nhiều động cơ và mục đích khác nhau. Chúng tôi cho rằng không nên loại bỏ khái niệm ảnh hưởng ra khỏi lịch sử văn học thế giới. Những thuật ngữ “tác động”, “tác động lẫn nhau”, “quan hệ”, “quan hệ lẫn nhau” mà có một số nhà nghiên cứu đề nghị thay thế cho khái niệm “ảnh hưởng”, ta thấy đều nằm trong phạm trù “ảnh hưởng”. Thái độ cực đoan thường chỉ đưa con người đến sai lầm, thậm chí gây nên nhiều thảm kịch cho cộng đồng và cho từng cá nhân con người. Ta có thể tìm thấy trong văn học Pháp và trong một số nền văn học khác nhiều công trình nghiên cứu đi theo hướng ảnh hưởng khá thuyết phục, có nhiều đóng góp vào tiến trình văn học so sánh.

Quả thực, ảnh hưởng là sự nhào nặn cải biên lại cái được lĩnh hội tùy theo môi trường lĩnh hội. Và bất cứ sự cải biên nào cũng là một hành động nhận thức. Mỗi người đọc, sau khi đọc một tác phẩm văn học, đều cảm thấy rằng có một cái gì đó đã diễn ra với mình, rằng mình đã khác đi một chút, đã nhìn nhận thấy một cái gì mới mẻ trong cuộc sống và ngay trong bản thân mình. Do đó, người đọc có thái độ đối với hiện thực có phần khác trước. Hiện thực đó đã nhập vào tiến trình lịch sử của văn hóa, đã làm tăng lên, dù là “epxilon”, khả năng tinh thần của con người, và biến đổi, dù là “epxilon”, tính chất của nền văn minh.

Hơn nữa, khả năng thông cảm của con người là không giới hạn. Nỗi đau của Thúy Kiều trong mười lăm năm trôi nổi, đọa đày và của hoàng tử Hamlet trong lâu đài của mình đều có sức rung cảm trái tim con người giống nhau trong cảm thông và trong nhận thức, bất kể đó là từ phương Đông hay phương Tây, giàu sang hay nghèo hèn... Nghĩa là những nhân vật văn học ấy đã và đang cùng sống với mọi người, tiếp tục cung cấp nhận thức, khơi gợi tình cảm của con người hướng đến những điều cao đẹp. Và cũng có nghĩa là sự nhận thức, lĩnh hội và ảnh hưởng của các nền văn học đối với nhau là bổ ích như nhau.

Trong lịch sử, ta thấy có nhiều loại ảnh hưởng khác nhau: ảnh hưởng của thi ca và kịch cổ đại đối với những nền văn học phát triển cao; âm nhạc châu Âu thế kỷ XIX đã chịu ảnh hưởng của âm nhạc phương Đông cổ đại; ảnh hưởng của thơ ca Hy Lạp đối với ca kịch của Vacne...

Nếu loại trừ khỏi lịch sử văn học các hình thái ảnh hưởng, thì không thể nào có được truyền thống văn học, cũng như khái niệm kế thừa và phát triển văn học.

Trong quá trình phát triển văn học không thể tồn tại đơn độc. Một nhà văn lớn bao giờ cũng gắn bó với toàn bộ nền văn minh đương thời, với khoa học, với những yêu cầu của con người đương thời, và với truyền thống. Nhà văn đó đã gắn liền với tư tưởng, với nghệ thuật và với văn học đang tồn tại trên toàn thế giới. Muốn hiểu cặn kẽ nhà văn ấy, ta nên nghiên cứu ông ta trong nhiều quan hệ và ảnh hưởng. Và chính ở đây, văn học so sánh có nhiều điều kiện phát huy tác dụng nhất.

Với cách nhìn mới, ở các vùng miền ngoài châu Âu, dù có không ít người cho rằng ảnh hưởng, đó là tư tưởng thực dân, áp đặt, thì cũng không phải vì thế mà phỉ báng, loại trừ. Chúng ta nên tôn trọng tính lịch sử và tính thực tiễn của phương pháp luận này. Nếu phương pháp này thiếu sót trong tính đơn tuyến của nó, thì nó cũng đã được trao đổi, tranh luận, bổ sung. Nếu cách nhìn này chỉ dựa trên hai quan niệm “may mắn” và “thành công”, thì nó cũng đã được bổ khuyết bằng cách nhìn có cơ sở vật chất hơn, khoa học hơn.

Những mâu thuẫn, những khủng hoảng, những phiến diện rồi cũng qua đi theo thời gian, theo sự tiến hóa phát triển của xã hội và khoa học.

Hòa nhịp với phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở các nước Á, Phi, Mỹ Latinh, văn học so sánh cũng phát triển và không ngừng lan tỏa, “phủ sóng” trên khắp năm châu. Nếu đường lối đối ngoại của các dân tộc trong thời đại ngày nay là đa phương, đa dạng, lấy đối thoại thay cho đối đầu, đối kháng..., thì trong văn học so sánh thay vì đề cao, nhấn mạnh ảnh hưởng một chiều, áp đặt, người ta giương cao ngọn cờ đối thoại, học tập lẫn nhau. Nếu các thời kỳ trước chưa chú ý đúng mức văn học dân tộc, và văn học thế giới, thì ngày nay, trong thời kỳ hậu thực dân chủ nghĩa, với cách nhìn mới, dân chủ, bình đẳng hơn, văn học dân tộc được phục hưng, bồi đắp trong giao lưu văn hóa rộng rãi với văn hóa văn học thế giới. Thay vì tự cao tự mãn, chia ra chiếu dưới chiếu trên, tự xem mình là cái “rốn” của vũ trụ, các nền văn học thế giới tìm đến nhau, đối thoại bình đẳng, học tập lẫn nhau và tiếp nhận cái ưu tú của nhau, tránh vết xe đổ của người đi trước. Một không khí hòa hợp cảm thông giữa các nền văn học đang ngày một tăng tiến.

Và cũng quả thực, văn học so sánh đã và đang giữ một vai trò quan trọng trong việc đánh giá bản sắc văn học dân tộc và góp phần xác định độ đậm nhạt của giao lưu văn hóa văn học dân tộc trong trường giao lưu toàn cầu hóa hiện nay.

Trong giao lưu văn học vào những thập kỷ gần đây, người ta thường chia văn học thành ba bộ phận: sản xuất, truyền bá và tiêu thụ văn học. Tức là đã chú ý đến vai trò của người đọc, đến tiếp nhận văn học.

Phải nói rằng từ xưa, vai trò người đọc đã được đề cập đến. Cách ta hàng hai mươi bốn thế kỷ, trong các quan điểm mỹ học của mình, lần đầu tiên Platon đã nói tới tác động của nghệ thuật đối với công chúng, nói tới khoái cảm của công chúng nghệ thuật, và nói tới thị hiếu của người tiếp nhận. Thế nhưng phải đến chủ nghĩa tư bản với cơ chế thị trường, vấn đề thị hiếu của công chúng nghệ thuật mới được quan tâm đúng mức, và đến thế kỷ XX mới trở thành vai trò quan trọng. Nếu “công chúng” trở thành trung tâm điểm của xã hội học văn học, thì “công chúng nghệ thuật” trở thành trung tâm điểm của lý luận tiếp nhận.

Nếu trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX L. Schucking đưa ra lý thuyết Xã hội học về thị hiếu, thì L. M. Price công bố cuốn Việc tiếp nhận văn học Anh ở Đức, với một thư mục có hệ thống khá tốt.

Thế nhưng, phải đến thập kỷ 70, khái niệm tiếp nhận mới được sử dụng rộng rãi, mà mở đầu là công trình Để có một mỹ học tiếp nhận (1970) và công trình Để có một chú giải văn học của Hans Robert Jauss, đại diện tiêu biểu của trường phái mỹ học tiếp nhận Đức, và sau đó là công trình Động tác đọc của Wolffgang Iser, hai giáo sư trường Đại học Constance (do đó mới có tên “trường phái Constance”). Những công trình này ra đời sau những cuộc tranh luận có liên quan đến lịch sử văn học, và đã có những đóng góp xuất sắc. Sau khi nhắc lại những quan niệm triết học của Husser, Gadamer, W. Benjamin... H. R. Jauss đã đưa các quan niệm ấy vào lĩnh vực văn học sử, mà mở đầu là quan niệm tiếp nhận văn học.

Jauss phân biệt ba chức năng cơ bản của thực hành thẩm mỹ. Đó là hoạt động sáng tạo, hoạt động tiếp nhận, và hoạt động giao tiếp. Vận dụng phương pháp chú giải học, ông nêu lên mối quan hệ năng động giữa tác giả, tác phẩm và người đọc. Tiếp nhận cần được hiểu là một động thái tích cực của người tiếp nhận, của người đọc. Người tiếp nhận không hề rơi vào thụ động, bị động, mà là một nhân vật chính rất chủ động, tự mình lựa chọn những sách hay, sách phù hợp để đọc. Trong khi đọc, nếu thấy dở, thì chọn đọc cuốn khác. Quả thực, người tiếp nhận đã làm cho tác phẩm có ý nghĩa và làm cho nó tồn tại. H. Jauss phân biệt tầm tiếp nhận từ bên trong văn bản cái ảnh hưởng được quyết định thông qua văn bản, và sự tiếp nhận có liên quan đến yêu cầu xã hội, tức là có liên quan đến người đọc của một xã hộ nhất định, trong một thời kỳ nhất định. Mối quan hệ giữa tác giả và người đọc là một quá trình gập ghềnh, căng thẳng, không dễ gì đúc rút được những đặc trưng.

Khoa chú giải học làm rõ hai cách tiếp nhận. Một mặt, đối với hiện tại cần mở ra một quá trình tích cực, trong đó ảnh hưởng và nghĩa của văn bản hiển hiện lên đối với người đọc đương thời. Mặt khác, cần làm sống lại quá trình lịch sử mà văn bản được tiếp nhận và giải thích với nhiều phương pháp khác nhau, do yêu cầu của những thời đại khác nhau. Đầu tiên, người đọc nhận thức, “nhận diện” văn bản từ bộ phận đến toàn thể, nhưng nghĩa và ý nghĩa của nó thì chưa nhận biết. Sau đó, trong hoạt động học và tự giải thích về mặt ý nghĩa, người đọc mới đi từ toàn thể đến bộ phận, và từ các nghĩa, người đọc mới cụ thể hóa, liên hệ những cái sâu sắc nhất, cơ bản nhất với hoàn cảnh, tâm tư, ước vọng của riêng mình. Đến công đoạn này người đọc mới lĩnh hội đầy đủ văn bản theo cách của mình. Văn bản nghệ thuật tạo trường hoạt động cho người đọc liên hệ, lĩnh hội, đi từ “biết” đến “hiểu” tác phẩm. Tài năng của một nhà văn phụ thuộc vào việc tạo được nhiều hay ít trường hoạt động cho người đọc liên hệ với bản thân và hiểu tác phẩm của mình. Đó chính là mối quan hệ giữa văn bản với người đọc. Văn bản càng “xốp”, càng chưa định hình, càng chưa xác định, càng lung linh, thì độ liên hệ, sức tiếp nhận của người đọc càng cao, người đọc càng dễ thấy những tình huống trong tác phẩm “giống y như mình”. Người đọc đã chính xác hóa những tình huống còn chưa xác định, đã điền vào những mảng, những chỗ trống trong tác phẩm mà anh ta tâm đắc nhất, hay luận suy ra.

Cách tiếp cận của các nhà mỹ học Đức đối với tác phẩm nghệ thuật mang ý tranh luận với các trường phái thực chứng luận trước đấy. Không phải sự giải mã thông điệp gài sẵn trong văn bản làm xuất hiện nghĩa, mà chính các hoạt động liên hệ, liên kết, liên tưởng được nảy sinh trong quá trình đọc, bằng cách thức đối thoại, đã tạo nên nghĩa. Đối tượng của mỹ học tiếp nhận không chỉ là tác phẩm hay tác giả, mà còn là hoạt động giao tiếp của người sáng tác và người tiếp nhận có quan hệ liên minh với nhau. Văn học là quá trình tác động lẫn nhau giữa ảnh hưởng thông qua văn bản và tiếp nhận thông qua người đọc. Văn bản mang tính giao tiếp, động tác đọc mang tính đối thoại. Người đọc là đồng tác giả với nhà văn, người tham gia cùng sáng tạo với nhà văn. Tiếp nhận là quá trình “hợp đồng”, có bên A và bên B, liên kết, liên danh giữa sáng tạo văn chương của nhà văn và tái sáng tạo mang sắc thái chủ quan của người đọc, và có hằn những vết tích của từng thời đại lịch sử khác nhau.

H. Jauss còn đưa ra quan niệm chủ chốt “tầm đón nhận” (erwartunghorizont) và quan niệm “hội nhập các tầm đón nhận” (horizontverschmelzung) để lý giải mối tương tác giữa tác phẩm nghệ thuật và người đọc, đến trình độ tiếp nhận của người đọc[1]. Tác phẩm là một tập hợp các cá tính do người đọc phát hiện ra. Trình độ người đọc là một tập hợp những chuẩn tắc “mai phục” sẵn ở nội tâm người đọc, chờ gặp nhau ở một tác phẩm mới, tác phẩm “của lòng mình” trong khi đọc tác phẩm nghệ thuật.

*

*        *

Văn học so sánh khi nghiên cứu ảnh hưởng, thì đối tượng nghiên cứu sẽ là tác giả hay tác phẩm của nước này trong nước kia. Nhưng khi nghiên cứu tiếp nhận, thì đối tượng nghiên cứu là người tiếp nhận nước này đối diện với tác phẩm của nước kia. Nghiên cứu ảnh hưởng và nghiên cứu tiếp nhận liên quan mật thiết với nhau. Vấn đề này đã là chủ đề của nhiều đại hội văn học so sánh quốc tế: Đại hội lần thứ IV họp ở Fribourg năm 1964 (F. Jost chủ biên: Từ ngữ và quan niệm văn học: mô phỏng, nguyên tác, ảnh hưởng); Đại hội lần IX họp ở Innbruck năm 1979 (Z. Konstantinovic, H. R. Jauss, M. Naumann chủ biên: Giao lưu và tiếp nhận văn học).

Phải chăng có sự khác nhau căn bản giữa ảnh hưởng của L. Tonxtôi ở Việt Nam và việc tiếp nhận L. Tonxtôi ở nước ta?

Trong cả hai trường hợp, tài liệu cơ sở vẫn là một, ấy chính là tác phẩm của L. Tonxtôi: một mặt là tác phẩm Tonxtôi, mặt khác là dấu vết của tác phẩm ấy lưu lại trong văn học nước ta. Nhưng bộ ba tiểu thuyết xuất chúng của L. Tonxtôi (Chiến tranh và hòa bình, Anna KarêninaPhục sinh) sẽ được khai thác khác nhau, có những phần được soi sáng đậm nhạt, mạnh yếu khác nhau. Với nghiên cứu tiếp nhận, nhà so sánh học thường trải qua các công đoạn sau đây:

Nắm bắt, đi sâu vào những biểu hiện rõ nét của việc hiểu biết tiểu thuyết Tonxtôi ở Việt Nam, qua các bài nghiên cứu, phê bình, các bản dịch, lời khen tiếng chê trong các sách và trên báo chí Việt Nam.

Mở rộng diện khảo sát ra vòng ngoài, nhà so sánh học đọc những sách tham khảo về Tonxtôi. Có những tài liệu gián tiếp của những người “ngoại đạo” lại gây được hứng thú và suy nghĩ bổ ích. Khảo sát tác động của tiểu thuyết L. Tonxtôi đối với bạn đọc Việt Nam trong một thời kỳ nào đó, ví dụ trong những năm 1960 ở miền Bắc chẳng hạn... So với một số nhà tiểu thuyết lớn của thế giới được dịch và giới thiệu cùng thời ở ta, để thấy vị trí của L. Tonxtôi trong lòng công chúng nghệ thuật Việt Nam.

Đặc biệt, nên chú ý đến những bài lý luận, nghiên cứu, phê bình, giới thiệu và những bài “thu hoạch” của giới sáng tác nước ta, từ trước tới nay, đối với L. Tonxtôi.

Và dù nghiên cứu tiếp nhận tiểu thuyết Tonxtôi, cũng nên nghiên cứu cả các thể loại khác của văn hào, truyện ngắn, bút ký, kịch, chính luận... để thấy hệ thống quan điểm thẩm mỹ của ông đã được tiếp nhận như thế nào ở ta.

Người ta hay kể đến trường hợp E. Dôla ở Đức. Các nhà phê bình Đức tự thấy mình đương đầu với một trường thẩm mỹ mới lạ, do Dôla tạo nên. Nó làm đảo lộn các chuẩn mực đã được đặt ra và được thấm sâu từ thời chủ nghĩa lãng mạn.

Trước tình thế ấy, một công trình nghiên cứu về ảnh hưởng sẽ định vị những tác phẩm nào có đề cập đến quan điểm nghệ thuật của Dôla trong chu kỳ lãng mạn. Đó là công trình nghiên cứu của M. G. Conrat. Nhà nghiên cứu này chứng minh rằng G. Hôpman đã chịu ảnh hưởng của E. Dôla trong việc sử dụng các môtíp trong tiểu thuyết của Dôla vào kịch của mình. Và quả thực những gì mà Dôla đạt được ở tiểu thuyết, thì G. Hôpman đã đạt được ở sân khấu. Một trường hợp khác là T. Man trong khi viết tiểu thuyết Gia đình Bucđenbruc đã thực sự chịu ảnh hưởng của E. Dôla, nhưng đã đồng hóa đi nhiều.

Nghiên cứu tiếp nhận và nghiên cứu ảnh hưởng rất cần đến nhau. Những thành tựu nghiên cứu tiếp nhận sẽ là những “chứng lý”, là cơ sở, chỗ dựa cho nghiên cứu ảnh hưởng.

Việc nghiên cứu một số bài viết của các nhà văn ta xoay quanh tiểu thuyết Anna Karênina của L. Tonxtôi, ca ngợi hết lời về nghệ thuật tiểu thuyết, nhưng cho nhân vật Anna là người vợ ngoại tình tầm thường, chạy theo tiếng gọi của tình yêu mà quên tình mẫu tử... là thuộc diện tiếp nhận văn học[2].

Còn việc nghiên cứu hoàn cảnh xã hội, điều kiện, yêu cầu văn học nào mà nhà văn Vũ Ngọc Phan dịch qua tiếng Pháp tiểu thuyết An-na Kha-lệ-ninh của nhà văn vĩ đại Nga Léon Tolstol, cũng như việc tìm hiểu tiểu thuyết Con đường sáng của Hoàng Đạo có bóng dáng mờ nhạt nào của nhân vật Lêvin của L. Tonxtôi không lại thuộc diện ảnh hưởng văn học.

Hiện nay, trên thế giới nghiên cứu tiếp nhận đang phát triển mạnh. Nó dành ưu tiên cho hệ thống văn học. Kết quả nghiên cứu tiếp nhận cho phép nhận định chính xác hơn giá trị những tác phẩm văn học nước ngoài qua thước đo “thu hoạch” của người đọc; và là cơ sở cho những tham khảo văn hóa của một xã hội ở một thời điểm nhất định.

Thế nhưng, cũng phải chú ý: tiếp nhận văn học, khác với các phương pháp khác, không cần ưu tiên quan tâm đến các vấn dề “nguyên tác” trong văn học. Điều ấy rất có thể dẫn đến xã hội học hóa văn học trong khi viết lịch sử văn học so sánh. Người ta có thể nói rằng đó chỉ là viết lịch sử việc đọc tác phẩm, nên cuối cùng quên đi chính các tác phẩm đó.

Mặt khác, việc nghiên cứu tiếp nhận cũng cho phép giới thiệu lại sự nghiệp các nhà văn. Việc tiếp nhận Shakespeare ở châu Âu thế kỷ XVIII, việc tiếp nhận Sêkhôp ở Pháp thế kỷ XX, việc tiếp nhận Gơt ở Trung Quốc... không phải đơn thuần là những phép cộng việc tiếp nhận các tác phẩm đặc biệt, mà đó cũng là thái độ tranh luận, phản ứng đối với những nhà nghiên cứu trước để bảo vệ những nhà văn mà những nhà tiếp nhận yêu qúy.

Triển vọng của việc tiếp nhận văn học còn rất rộng rãi. Chân trời tiếp nhận so sánh còn bao la. Người ta có thể nghiên cứu việc tiếp nhận chỉ một tác phẩm ở hai hay nhiều trường văn hóa khác nhau. Việc đối sánh như vậy không những cho ta nhìn thấy hai hệ thống văn học, mà còn cho ta nhìn thấy rõ những ánh xạ, những tương phản trên tác phẩm nghiên cứu, làm cho sáng giá lên khả năng này hay khả năng kia trong tiếp nhận tác phẩm.

Quan điểm mỹ học tiếp nhận vừa nhấn mạnh chức năng xã hội của vưan học lại vừa chú ý đến việc xác định đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm. Nó luôn đặt “cái xã hội” trong liên quan với “cái nghệ thuật”. Nó luôn chú ý đến vai trò tích cực của công chúng nghệ thuật, luôn chú ý đến trình độ tiếp nhận của người đọc.

Thế nhưng mỹ học tiếp nhận không phải là một bộ môn độc lập, được xây dựng trên một hệ tiên đề riêng và tự mình “có thể đóng góp vào cái mới hiện tại của nghiên cứu nghệ thuật”. Nó không phải là phương pháp độc tôn, mà chỉ là một phương pháp luận tiếp cận cục bộ, bộ phận có thể kết hợp với các phương pháp khác, được các phương pháp khác bổ sung cho để đạt được kết quả của mình.

Ý nghĩa tiến bộ và đóng góp của mỹ học tiếp nhận chính là ở chỗ đó.

 

 

 


[1] Dẫn theo Yves Chevrel - La Litterature Comparée; Presses Universitaires de France; Paris, 1989, p. 51.

[2] Xin xem: Lưu Văn Bổng - Sức mạnh tố cáo của tiểu thuyết Anna Karênina, trong cuốn Nghĩ về sắc hương xa. Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 1997, tr. 42 - tr. 61.

 

Search by Date: