VIỆN VĂN HỌC - 50 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

02/03/2013

Nhìn vào danh mục sách xuất bản của Viện trong 50 năm qua, với gần 600 đầu sách của cá nhân và tập thể gồm đủ các thể loại: nghiên cứu, biên khảo, sưu tầm, dịch thuật, có thể thấy nỗ lực không mệt mỏi, thành quả lao động sáng tạo và những đóng góp quan trọng của các thế hệ cán bộ Viện cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

 

(Toàn văn bài phát biểu tại lễ Kỉ niệm 50 năm thành lập Viện 1953-2003)
 
PGS.TS. Phan Trọng Thưởng 
 
Tính từ tiền thân là Tổ Văn trong Ban nghiên cứu Sử - Địa - Văn (sau đổi là Văn - Sử - Địa), trực thuộc Trung ương Đảng, ra đời tại chiến khu Việt Bắc ngày 2 tháng 12 năm 1953 đến nay (2003), Viện Văn học đã có chẵn 50 năm xây dựng và phát triển.

 

Ngay từ khi mới thành lập (tháng 12 năm 1953), với nhiệm vụ được giao và với một đội ngũ học giả tuy ít ỏi nhưng có trình độ và uy tín, có tầm nhìn xa, thấy trước những vấn đề của khoa học xã hội và nhân văn thuộc tất cả các bộ môn, Ban nghiên cứu Sử - Địa - Văn đã sớm đi vào hoạt động, đề ra được một chương trình nghiên cứu của các bộ môn, đáp ứng các yêu cầu cấp thiết của tình hình xã hội chính trị tư tưởng và văn hoá, khoa học thời bấy giờ. Nhiều vấn đề cơ bản của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, lịch sử văn hoá và văn học, lịch sử hình thành của các điều kiện địa lí tự nhiên và địa lí nhân văn Việt Nam đã được đặt ra và trao đổi. Các kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần làm sáng tỏ lịch sử, rạng rỡ truyền thống mà còn góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh tư tưởng và mĩ học diễn ra khá gay gắt trong đời sống xã hội - chính trị và đời sống văn chương học thuật diễn ra vào cuối những năm năm mươi của thế kỉ, đồng thời, đặt những nền móng quan trọng cho sự phát triển của các ngành khoa học xã hội giai đoạn từ 1959 trở đi.

 

Đối với lĩnh vực văn học, có thể xem đây là thời kì hình thành khoa học văn học, thời kì đấu tranh để xây dựng những nguyên tắc tư tưởng thẩm mĩ cho nền văn học mới, thời kì đặt nền tảng cho khoa nghiên cứu và giảng dạy văn học.

 

Tuy nhiên, phải đến tháng 2 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ mới chính thức ra Quyết định thành lập Viện Văn học trực thuộc Uỷ ban Khoa học nhà nước. Cái tên khai sinh: Viện Văn học và địa chỉ khai sinh: 20 Lý Thái Tổ tồn tại từ đó đến nay sau nhiều lần thay đổi cơ quan chủ quản cùng tên gọi của nó. Sự khai sinh Viện Văn học cũng như Viện Sử học và một số Viện khác vào thời điểm lịch sử này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Có thể xem đây là những hoạch định, thiết kế đầu tiên cho tương lai khoa học của đất nước. Cùng với sự ra đời của các Trường Đại học, sự ra đời của các Viện nghiên cứu cơ bản đã mở ra những tiền đồ văn hoá khoa học sán lạn mà ngay từ thời Ban Văn - Sử - Điạ, các nhà nghiên cứu tiên phong  đã trù liệu.

 

Với 12 thành viên đầu tiên và với vai trò đứng đầu của GS. Viện trưởng Đặng Thai Mai, cơ cấu tổ chức của một cơ quan khoa học từ việc xác định các bộ môn nghiên cứu đến việc phân lập, chia tách các Phòng, Ban chuyên môn, bộ máy hành chính và phục vụ nghiên cứu... từng bước được hình thành, bổ sung và kiện toàn. Ngay trong năm đầu tiên sau khi thành lập, Tập san Nghiên cứu văn học với tư cách là cơ quan ngôn luận của Viện, là nơi công bố các kết quả nghiên cứu không chỉ của cán bộ trong Viện mà còn của cả giới nghiên cứu, đã ra mắt số đầu tiên (1-1960) - mở đầu cho một chặng đường hơn 40 năm (1960-2003) thường xuyên, liên tục hiện diện trong đời sống khoa học văn học như một nhu cầu không thể thiếu.

 

Nhìn lại nửa thế kỉ xây dựng và phát triển, chúng ta thấy lịch sử của Viện gắn với lịch sử đất nước trong những thời kì khó khăn, ác liệt và rất đáng ghi nhớ. Đó là cuộc kháng chiến chống Pháp thời kì 1953-1954; là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kì 1955-1975; là thời kì sau chiến tranh 1976-1985 và thời kì đổi mới 1986 đến nay. Mỗi thời kì đều để lại những dấu ấn không phai mờ trong lịch sử của Viện cũng như trong kí ức của mỗi thế hệ cán bộ. Nhưng điểm chung xuyên qua hầu hết các thời kì là tinh thần lao động không mệt mỏi, tinh thần say mê, tận tuỵ với công việc; tinh thần lạc quan yêu đời, yêu nước, yêu khoa học, gắn bó với cơ quan. Chính các tinh thần đó tạo nên nghị lực vượt qua những hoàn cảnh khó khăn, tạo nên những giá trị tinh thần cao quý tiềm ẩn trong cuộc sống, tiềm ẩn trong mỗi thành quả lao động sáng tạo. Rời căn cứ địa Việt Bắc không được bao lâu, Viện lại phải rời thủ đô về làng quê ở Đồng Bèo, Mã Cháy (Bắc Giang), sống giữa nhân dân, tiến hành các công việc nghiên cứu trong một hoàn cảnh thực sự bó buộc đối với khoa học. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt, nhiều thanh niên trí thức của Viện đã nhập ngũ theo tiếng gọi của Tổ quốc, sống và chiến đấu ở những mặt trận gian khổ nhất. Trong số đó, có những đồng chí đã hy sinh anh dũng ngoài mặt trận như đồng chí Ngọc Anh, nguyên là cán bộ của Ban Văn học dân gian. Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, nhiều công trình quan trọng của tập thể và cá nhân trong Viện đã ra đời, đóng góp đáng kể vào đời sống tinh thần, học thuật chung của đất nước.

 

Trong 50 năm hoạt động nghiên cứu, yêu cầu tổng kết, đánh giá các thời kỳ, các giai đoạn văn học luôn luôn được đặt ra và giành cho những nỗ lực nghiên cứu thích đáng.

 

Các công trình của Ban Văn học Cổ-Cận đại về các tác giả, tác phẩm, về thể loại, văn bản, về các văn phái v.v... từ thế kỷ thứ X đến đầu thế kỷ thứ XX, về cơ bản đã khôi phục được diện mạo văn học quá khứ; bước đầu thẩm định, đánh giá những giá trị về văn học và văn hóa; đề xuất những phương hướng và giải pháp nghiên cứu, khai thác một cách có hệ thống di sản văn học dân tộc.

 

Các công trình của Ban Văn học Việt Nam hiện đại về văn chương quốc ngữ đầu thế kỷ; về trào lưu, khuynh hướng, về thể loại, tác giả, tác phẩm văn chương thời kỳ 1930-1945; về văn học kháng chiến chống Pháp 1945-1954; về văn học thời kỳ chống Mỹ cứu nước 1954-1975; về văn học giai đoạn sau chiến tranh và thời kỳ đổi mới 1975 đến nay... đã đáp ứng được một phần quan trọng yêu cầu tổng kết, đánh giá, khẳng định thành tựu văn học cách mạng, dựng lại chân dung văn học, hệ thống hóa tư liệu làm căn cứ cho việc biên soạn lịch sử văn học và phục vụ nghiên cứu lâu dài.

 

Các công trình của Ban Lý luận văn học xung quanh các vấn đề về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống; về vai trò của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật; về những nguyên lí văn học và mĩ học của chủ nghĩa Mác-Lênin; về các quan điểm cơ bản của Đảng ta về văn hóa văn nghệ; về quan điểm văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh; về những vấn đề then chốt của khoa học văn học, v.v... đã bước đầu hướng tới việc đúc rút các kinh nghiệm nghệ thuật, gợi mở những suy nghĩ về các giá trị, về bản chất văn chương, về vai trò của văn chương trong đời sống xã hội, về quan hệ của văn chương với thực tại đấu tranh cách mạng của dân tộc, đấu tranh với những quan điểm lý luận sai trái, đi ngược lại lợi ích của dân tộc v.v...

 

Các công trình của Ban Văn học Dân gian các dân tộc đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết; nghiên cứu các thể loại, đặc trưng, thi pháp văn học dân gian; khảo sát diện mạo văn học dân gian từng vùng, miền; sưu tầm biên soạn văn học dân gian các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam v.v... đã góp phần không nhỏ vào việc lý giải qui luật hình thành và phát triển của mỗi nền văn học dân tộc; đặc sắc văn hóa, văn học bảo lưu qua mỗi sáng tác dân gian và những giá trị vừa phổ biến, vừa độc đáo của loại hình văn học này trong tiến trình văn học.

 

Các công trình của Ban Văn học Nước ngoài lấy trọng tâm là việc giới thiệu các tinh hoa văn học nhân loại qua nghiên cứu giới thiệu các tác giả, tác phẩm, các trào lưu khuynh hướng và các nền văn học rực rỡ qua các thời đại. Với nỗ lực của các thế hệ cán bộ, các thành quả nghiên cứu văn học nước ngoài trong 50 năm qua đã giúp cho chúng ta hiểu thêm, hiểu kỹ về nhiều nền học của các nước anh em và bè bạn trên toàn thế giới thuộc các khu vực: châu á, châu Âu, châu Mỹ Latinh. Nhận thức rõ hơn những đặc điểm có tính quy luật chi phối tiến trình văn học thế giới. Đó là cơ sở để chúng ta tiếp thu, chọn lọc những giá trị thực sự, phù hợp với yêu cầu phát triển văn học và văn hóa của chúng ta. Đó cũng là chiếc cầu nối để thực hiện các cuộc giao lưu, hội nhập giữa chúng ta với bạn bè thế giới.

 

Nhìn vào danh mục sách xuất bản của Viện trong 50 năm qua, với gần 600 đầu sách của cá nhân và tập thể gồm đủ các thể loại: nghiên cứu, biên khảo, sưu tầm, dịch thuật, có thể thấy nỗ lực không mệt mỏi, thành quả lao động sáng tạo và những đóng góp quan trọng của các thế hệ cán bộ Viện cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

 

Những năm gần đây, trước yêu cầu tổng kết thế kỷ XX, toàn Viện đã tập trung thực hiện Dự án Điều tra, sưu tầm tư liệu văn học Việt Nam thế kỷ XX và Dự án Điều tra tổng thể tư liệu văn học Việt Nam mười thế kỷ (X-XX). Đây là hai dự án quan trọng được đề xuất và phê duyệt dựa trên thực tế nghiên cứu và nhu cầu bảo lưu, bảo quản các giá trị văn hóa và văn học. Nhiều tư liệu quí hiếm đã được sưu tầm, khôi phục, từng bước trả lại vị trí của nó trong lịch sử văn học, dựng lại chân dung đầy đủ, đích thực của tiến trình văn học. Qua nghiệm thu đợt I, các ý kiến nhận xét đều cho đây là một công việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa.

 

Hướng vào mục tiêu tổng kết thế kỷ còn có hàng loạt công trình về tác giả, tác phẩm được tổ chức và triển khai. Nhưng đáng chú ý là hai cuốn: Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học và Nhìn lại một thế kỷ văn học do tập thể cán bộ nghiên cứu của Viện thực hiện có sự tham gia của một số tác giả bên ngoài. Đây là một cố gắng lớn mặc dù có thể còn có những ý kiến khác nhau.

 

Từ nay tới 2005, ngoài các nhiệm vụ thường xuyên, toàn Viện tập trung vào hai nhiệm vụ trọng điểm:

 

Tiếp tục thực hiện Dự án Điều tra tổng thể tư liệu văn học Việt Nam 10 thế kỷ (X-XX) và hoàn thành việc biên soạn bộ Lịch sử văn học Việt Nam 10 thế kỷ (X-XX)đã được nhà nước giao gồm 10 tập, 16 quyển. Đây là 2 nhiệm vụ quan trọng thu hút toàn bộ năng lực, trí tuệ và sự quan tâm của giới nghiên cứu. ý nghĩa của công việc này đã được Lãnh đạo Viện, Ban chủ nhiệm đề tài và tập thể cán bộ khoa học của Viện nhận thức rõ và quyết tâm thực hiện qua kế hoạch đang được triển khai.

 

*

 

Về Tổ chức và Đào tạo, 50 năm qua, trước yêu cầu của khoa học, Viện không chỉ mở rộng cánh cửa đón nhận những cán bộ có tài năng, tâm huyết được đào tạo chính quy từ nhiều trường Đại học ở trong nước và nước ngoài về mà còn là nơi tạo các điều kiện hết sức thuận lợi để cán bộ khoa học có thể được đi đào tạo ở nhiều nước trên thế giới. Có những thời điểm, cùng một lúc có đến hàng chục cán bộ của Viện có mặt ở nước ngoài làm thực tập sinh, nghiên cứu sinh. Đó là chưa kể rất nhiều lượt cán bộ, các chuyên gia khoa học được thực hiện các cuộc trao đổi khoa học với các Viện nghiên cứu, thuyết trình tại các trường Đại học ở nước ngoài từ vài tuần đến vài tháng. Những ai chưa có điều kiện cử đi đào tạo ở nước ngoài thì cũng được tạo cơ hội để bảo vệ luận án trong nước, tham gia các khoá học nâng cao kiến thức cần cho chuyên môn như Hán học, Ngoại ngữ v.v... Có thể xem đó là một điều kiện tương đối lí tưởng cho việc hoàn bị đội ngũ cán bộ khoa học có năng lực, phẩm chất, đáp ứng các yêu cầu của công tác nghiên cứu. Đây cũng chính là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giao lưu hợp tác quốc tế, đặc biệt là đối với những nước có quan hệ truyền thống.

 

Ngoài chức năng nghiên cứu, từ năm 1978, Viện Văn học còn được Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học. Ngay từ đầu những năm sáu mươi, trước đòi hỏi của công tác nghiên cứu di sản văn học dân tộc, Viện Văn học đã chủ động mở lớp đào tạo cán bộ có trình độ Đại học Hán-Nôm đủ năng lực để chiếm lĩnh, khai thác di sản văn học và văn hoá của dân tộc. Sang những năm tám mươi, một khoá đào tạo Hán-Nôm dành cho những cán bộ trẻ đang theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu văn học Việt Nam Cổ-Cận lại được tiếp tục mở. Đó là tầm nhìn xa trông rộng, là ý thức trách nhiệm của các chuyên gia đầu ngành trước các yêu cầu của khoa học văn học.

 

Với nhiệm vụ được giao, từ 1978 đến nay, Viện đã đào tạo được gần 50 cán bộ có học vị Tiến sĩ, đang đào tạo hơn hai mươi nghiên cứu sinh, trong đó có cả cán bộ trong Viện và cán bộ từ các trường Đại học, các địa phương trong nước và nước ngoài gửi tới.

 

Nói đến lịch sử hình thành và phát triển của Viện Văn học không thể không nói tớiTạp chí Văn học. Đây là cơ quan ngôn luận, là tiếng nói, là diễn đàn khoa học của Viện và của cả giới. Từ 1960 đến nay, chưa lúc nào Tạp chí bị gián đoạn hoặc vắng mặt trong đời sống văn chương học thuật, kể cả trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất. Đó vừa là nơi công bố các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài Viện; vừa là nơi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học. Cũng như một số Tạp chí khoa học khác, cộng tác viên của Tạp chí Văn học phần lớn là các nhà khoa học, nhưng độc giả của Tạp chí không chỉ bó hẹp trong phạm vi các nhà khoa học mà còn là những nhà văn, nhà giáo, những sinh viên văn khoa các trường đại học, những học giả nước ngoài và đông đảo những người quan tâm, yêu mến văn học. Trong hơn 40 năm qua, Tạp chí Văn học đã đăng hơn 6000 tiểu luận khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài Viện, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa nghiên cứu văn học, đáp ứng những yêu cầu lớn do đời sống chính trị, xã hội và văn học đặt ra.

 

Qua dư luận và qua đánh giá của các cộng tác viên có thể nói, đây là Tạp chí khoa học đầu ngành của cả nước. Trong những năm cuối thế kỷ, trước sự xô bồ của thị trường sách báo, Tạp chí Văn học vẫn giữ được tính hàn lâm và chất lượng vốn có của nó. Bằng sự kiên trì bản lĩnh của mình, Tạp chí Văn học đã củng cố được niềm tin của độc giả. Trước các vấn đề của đời sống văn học đương đại, Tạp chí Văn học chủ trương tham dự theo cách riêng của mình. Đó là một thái độ điềm tĩnh khoa học, một ý thức chủ động gạt đi những gì nổi lên trên bề mặt của các cuộc tranh luận để tìm hiểu căn nguyên, bản chất vấn đề.

 

*

 

Nhìn lại nửa thế kỷ xây dựng và phát triển Viện Văn học, chúng ta có nhiều lí do để tự hào. Nhưng nhìn vào nửa thế kỷ tiếp theo, hoặc gần hơn là 10 hoặc 20 năm sau, thực sự không phải là không có những nỗi lo lắng. Để tồn tại xứng đáng cả với quá khứ, hiện tại và tương lai, chỉ có một cách đó là làm sao để nâng được vị thế khoa học của Viện thông qua đóng góp của đội ngũ chuyên gia và tính hữu ích trong những công trình được xuất bản. Đặc biệt là yêu cầu xây dựng đội ngũ chuyên gia khoa học. Thiếu đội ngũ chuyên gia thì thực chất Viện chỉ tồn tại trên danh nghĩa.

 

Ý thức được sâu sắc yêu cầu đó nên trong thời gian qua, tập thể các nhà nghiên cứu ở các Ban chuyên môn, Hội đồng khoa học, Lãnh đạo Viện và Chi bộ đã dành thời gian, trí tuệ và công sức để thảo luận và xây dựng định hướng tư tưởng học thuật cho từng Ban, từ đó xây dựng định hướng tư tưởng học thuật cho Viện từ nay tới năm 2010, trước mắt là 5 năm tới. Trong quá trình xây dựng định hướng cho tương lai, các ban chuyên môn đã điểm duyệt lại cả quá trình, phân tích sâu sắc những hạn chế, bất cập của công tác nghiên cứu trong nhiều năm qua; đồng thời, bám sát thực tiễn, đối mặt với những yêu cầu bức xúc đang đặt ra trong đời sống văn chương học thuật những năm gần đây để điều chỉnh, bổ sung phương hướng nghiên cứu những năm tới.

 

Với những thành tích đạt được trong quá trình lao động sáng tạo và cống hiến 50 năm qua, Viện Văn học đã được Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quí:

 

- Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba

- Huân chương Độc lập hạng Nhất

- 6 Giải thưởng Hồ Chí Minh và 2 Giải thưởng Nhà nước cho những công trình sáng tạo của cá nhân.

- Tên 4 nhà nghiên cứu của Viện đã được chọn đặt tên phố ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Đó là một sự ghi nhận vẻ vang công lao đóng góp của tập thể và cá nhân các nhà khoa học xuất sắc của Viện trong quá trình xây dựng và phát triển 50 năm qua.

 

 

Search by Date: